Quy hoạch, Kiến trúc, Xây dựng

Quy hoạch, Kiến trúc, Xây dựng Tư vấn kiến trúc,Tư vấn lập quy hoạch, lập dự án đầu tư, lập bản vẽ thi công và dự toán các công trình dân dụng và công nghiệp...

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU KINH TÉ, KHU THƯƠNG MẠI TỰ DO, CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN ...
29/05/2026

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU KINH TÉ, KHU THƯƠNG MẠI TỰ DO, CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

- 92 KCN tổng diện tích 26.156,2 ha
- 1 Khu kinh tế chuyên biệt 6.000-10.000 ha
- 1 Khu thương mại tự do 2.000-5.000 ha

🇻🇳 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG HÀNH TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC(Bài viết của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính ...
19/05/2026

🇻🇳 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG HÀNH TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

(Bài viết của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương )

"Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Trọn cuộc đời, Người đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. "Dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta và non sông đất nước ta".[1] Lời khẳng định ấy là sự đúc kết chân thực về tầm vóc, tư tưởng, di sản và thời đại Hồ Chí Minh.

Lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh - Người đã tìm ra con đường cứu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đề ra những luận điểm cơ bản về Đảng cầm quyền, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng hai thế lực thực dân, đế quốc trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và trực tiếp lãnh đạo công cuộc lập pháp; sáng lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay), tập hợp, quy tụ mọi tầng lớp Nhân dân, xây dựng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Điều còn mãi với dân tộc hôm nay là sự nghiệp cách mạng vẻ vang, là hệ thống tư tưởng toàn diện, sâu sắc, giàu tính nhân văn và tấm gương đạo đức sáng ngời của Người. "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại".[2] Đó là hệ thống các quan điểm về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng Đảng ta "là đạo đức, là văn minh", cán bộ, đảng viên "vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân"; về đạo đức cách mạng, "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", "quét sạch chủ nghĩa cá nhân"; về quyền làm chủ của Nhân dân, "lấy dân làm gốc", xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"; về an ninh quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, "không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân"; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước và các dân tộc trên thế giới... Tất cả được Người luận giải một cách khoa học, biện chứng, sáng tạo trên cơ sở nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin và phù hợp với thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân, tư tưởng của Người thấm đẫm trong từng lời nói, hành động nhất quán, mẫu mực và sự hy sinh cao cả của một nhân cách vĩ đại. Người đã luôn thực hành hệ thống các quan điểm lý luận phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam một cách giản dị, gần gũi mà sâu sắc của một trí tuệ uyên bác. Chính sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động ấy đã tạo nên sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong dòng chảy lịch sử.

Từ những ngày đầu thành lập Đảng, những văn kiện đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi đậm dấu ấn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt. 96 năm qua, nhất là trong 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thấm nhuần bài học kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định và chỉ đạo thực tiễn, tạo nên những thành tựu to lớn, nổi bật, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước. Từ vị trí trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỉ USD và trên 5.000 USD/người. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động", và tư tưởng Hồ Chí Minh "là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".[3] Việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta xác định là nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt; là cơ sở để nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết và lãnh đạo thực hiện để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, góp phần xây dựng nền tảng, sức mạnh tinh thần xã hội trong phấn đấu thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.

Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt, triển khai nghiêm túc, hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cấp ủy các cấp đã căn cứ tình hình thực tế của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình hành động, nghị quyết, kế hoạch hằng năm gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua, các cuộc vận động; chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các khâu đột phá phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề trọng tâm, bức thiết của thực tiễn. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung kiểm tra, giám sát hằng năm, toàn khóa đối với các cấp ủy, tổ chức đảng. Công tác tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được chú trọng, với nhiều hình thức đa dạng. Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" do Ban Bí thư chỉ đạo, ngày càng đi vào chiều sâu, thu hút sự tham gia tích cực của văn nghệ sĩ, trí thức và các tầng lớp nhân dân. Mô hình "Không gian văn hóa Hồ Chí Minh" từ sáng kiến của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đang được nhân rộng ở nhiều tỉnh, thành phố và từng bước triển khai ở nước ngoài, góp phần đưa những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người đến gần hơn với cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Nhiều cơ quan, đơn vị xóa bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, bổ sung, xây dựng quy chế làm việc và bộ quy tắc ứng xử theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đổi mới tác phong làm việc, chú trọng gần dân, sát dân, lắng nghe và đối thoại với Nhân dân. Việc phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gắn với thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, lề lối, tác phong làm việc và kỷ luật, kỷ cương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Từ những chuyển biến ấy, niềm tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước tiếp tục được củng cố.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị và sức cạnh tranh quốc gia, việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh càng phải đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn, thực sự là nguồn lực nội sinh cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao nhất tinh thần "tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc", thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Điều này đòi hỏi cần có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân, quán triệt và thực hiện học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần hành động "nói ít - làm nhiều - làm đến cùng - làm có kết quả", giữ vững "bốn kiên định", phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kiên định quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn. Đây chính là tinh thần "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" mà Người từng căn dặn. Kiên định là giữ vững cái gốc, cái nền tảng, nhưng không có nghĩa là bảo thủ, rập khuôn, máy móc và giáo điều, mà là giữ vững những giá trị cốt lõi đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn. Không máy móc trích dẫn câu chữ mà phải nắm bắt cái "thần", cái "tinh túy" trong phương pháp luận của Người. Cần có tổng kết thực tiễn, coi trọng việc đúc kết kinh nghiệm từ các mô hình hay, cách làm sáng tạo trong nhân dân, nâng tầm thành lý luận.

Phải vận dụng sáng tạo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, tập trung khơi thông các điểm nghẽn để kiến tạo phát triển, đề cao và phát huy tinh thần không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược, nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, bám sát thực tiễn, đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia; chuyển hóa những giá trị đó thành các nguyên tắc dẫn đường, định hướng cho mọi quyết định và việc làm thực tế. Lấy nguyên tắc "dân làm gốc" để chuyển hóa tư tưởng thành hành động; luôn đặt câu hỏi: "Việc này có lợi cho dân không? Có làm hại đến lợi ích của Nhân dân không?" và "Làm thế nào để có lợi cho dân?". Luôn thực hành "nói đi đôi với làm", "làm cho đến cùng", "làm có kết quả cụ thể", kiên quyết chống tình trạng "tư tưởng một đằng, hành động một nẻo", "làm cho có", "làm nửa chừng". Phải thấm nhuần sâu sắc, hiểu đúng để tạo bước chuyển căn bản trong hành động, để việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu tự thân, động lực đổi mới sáng tạo, nền tảng của phát triển. Đồng thời chú trọng thực hành "tự soi, tự sửa" một cách thường xuyên, nghiêm túc và cầu thị trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước. "Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý"[4], cần "tự soi, tự sửa" từ đường lối, chủ trương, nghị quyết đến hành động thực tế. Trong kỷ nguyên mới, hội nhập toàn cầu và khát vọng vươn mình của dân tộc, "tự soi, tự sửa" phải được thực hiện, nhìn nhận, đánh giá khách quan, minh bạch, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, kết quả cụ thể, dữ liệu thời gian thực làm thước đo cao nhất.

Phải hành động quyết liệt và khoa học; kiên quyết sửa đổi tư duy lối mòn, loại bỏ tư duy cũ kỹ, sợ sai để chuyển sang mô hình quản trị hiện đại, gắn với đổi mới sáng tạo, tự đào tạo, nâng cao trình độ, không ngừng học hỏi và tiếp cận các kiến thức mới về quản trị, kinh tế số, xã hội số; hoàn thiện thể chế để người dân tham gia giám sát, phản biện xã hội.

Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp của tinh thần kiên định nhưng luôn sáng tạo; giữ vững nguyên tắc nhưng không giáo điều, máy móc; luôn xuất phát từ thực tiễn và hướng tới hạnh phúc của Nhân dân. Đó chính là giá trị bền vững, nguồn sức mạnh tinh thần to lớn tiếp thêm niềm tin và ý chí cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên hành trình phát triển đất nước. Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh sẽ mãi là nền tảng tư tưởng vững chắc, nguồn sức mạnh nội sinh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vững vàng tiến bước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, thịnh vượng và hùng cường".
______
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, t.30, tr.275.

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H.2016, t.60, tr.130.

[3]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2019, t.2, tr.514-tr.515.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, H.2011, t.7, tr.82.
Nguồn: Thông tin Chính Phủ

Đường Vành đai 5 qua Bắc Ninh sẽ có 6 làn xeQuy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và quy ...
18/05/2026

Đường Vành đai 5 qua Bắc Ninh sẽ có 6 làn xe

Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định tuyến Vành đai 5-Vùng Thủ đô có lộ trình đầu tư trước năm 2030.

Để đảm bảo lộ trình thực hiện, Ban Quản lý dự án Thăng Long (Bộ Xây dựng) và Liên danh tư vấn lập báo cáo tiền khả thi vừa trình Bộ Xây dựng Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô, đề xuất sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 265.517 tỷ đồng, với tuyến chính cao tốc đầu tư quy mô 6 làn theo quy hoạch.

Theo đề xuất của tư vấn, Dự án đầu tư đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô có tổng chiều dài khoảng 340km (không bao gồm 33km đi trùng cao tốc Hà Nội-Thái Nguyên; cao tốc Hà Nội-Lào Cai), điểm đầu Km0 (tương ứng Km367+100 đường Hồ Chí Minh), thuộc địa phận xã Yên Bài, thành phố Hà Nội; điểm cuối trùng điểm đầu.

Dự án đi qua địa bàn 7 địa phương, bao gồm: Hà Nội (51km), Ninh Bình (36km), Hưng Yên (27km), Thành phố Hải Phòng (63km), Bắc Ninh (49km), Thái Nguyên (36km) và Phú Thọ (78km).

Về quy mô đầu tư, tư vấn đề xuất tuyến chính cao tốc đầu tư quy mô 6 làn theo quy hoạch, riêng đoạn qua Thái Nguyên từ km248+124 đến đường cao tốc CT.07, quy mô 4 làn xe; tốc độ thiết kế 100-120km/giờ.

Xem bài đầy đủ tại link trong cmt:
Ảnh minh họa

Xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2030, Là cực tăng trưởng kinh tế, trung tâm l...
18/05/2026

Xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2030, Là cực tăng trưởng kinh tế, trung tâm logistics của miền Bắc và cả nước.
• Mô hình Đa cực - Đa trung tâm.
• 01 vùng đô thị trung tâm – 02 cửa ngõ quốc tế – 03 vùng phát triển kinh tế - 05 Hành lang phát triển kinh tế chủ đạo – 03 Trục động lực.
• Khu kinh tế chuyên biệt 11.500ha.
• Khu thương mại tự do 2.000-5.000ha.
• Thành lập mới Trung tâm đổi mới sáng tạo tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Bán dẫn và Vi mạch, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Nông nghiệp công nghệ cao, Khu công nghiệp CN số Tiên Du, KCN công nghệ cao Đào Viên, KCN Dữ liệu (Trung tâm AIDC), KCN CNS.
• Phát triển khu Đào tạo nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ I (Khu đô thị Đại học I) với diện tích khoảng 200 ha; Khu Đào tạo nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ II (Khu đô thị Đại học II) với diện tích khoảng 500 ha và bổ sung thêm chức năng đô thị vào khu đào tạo để thu hút khoảng 100.000 - 150.000 sinh viên của các 95 cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu di dời từ trong trung tâm Hà Nội ra bên ngoài và các cơ sở xây dựng mới.
Giảm quy mô và chuyển dịch làng đại học 1 hiện đang nằm 2 bên đường cao tốc vào trong khu vực Nam Sơn để tạo nên khu đô thị tri thức, động lực phát triển cho khoa học công nghệ của tỉnh Bắc Ninh. Khu các trường đại học, cao đẳng, nghề thu hút các trường đại học cấp quốc gia, trường đại học quốc tế

UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành quyết định phê duyệt danh sách phân loại nhóm xã thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn...
15/05/2026

UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành quyết định phê duyệt danh sách phân loại nhóm xã thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030.
Chi tiết văn bản trong cmt

Sở Xây dựng đã tổ chức phiên họp về đẩy nhanh tiến độ lập điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn...
15/05/2026

Sở Xây dựng đã tổ chức phiên họp về đẩy nhanh tiến độ lập điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075
1. Phạm vi, quy mô và thời hạn lập quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh
a) Phạm vi lập quy hoạch chung: Toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh, với 99 đơn vị hành chính cấp xã, phường.
b) Quy mô quy hoạch:
- Diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Ninh khoảng 4.718,60 km2, với 99 đơn vị hành chính cấp xã (33 phường, 66 xã).
- Quy mô dân số hiện trạng sau sáp nhập khoảng 3.619.433 người.
c) Thời hạn quy hoạch: Thời hạn lập quy hoạch phù hợp với quy định của
Luật quy hoạch đô thị và nông thôn có xét đến một số giai đoạn đặc thù của phát
triển, cụ thể: Quy hoạch ngắn hạn đến năm 2040, trong đó bao hàm một số chỉ tiêu
phát triển cho giai đoạn năm 2030; Quy hoạch dài hạn đến năm 2050; Tầm nhìn đến năm 2075.
2. Quan điểm, mục tiêu của quy hoạch: Xác lập vị thế đô thị Bắc Ninh trong tương lai với mối quan hệ toàn diện của phát triển đô thị và phát triển kinh tế xã hội, trong đó:
- Vị thế đô thị và trung tâm kinh tế toàn cầu: Định hình Bắc Ninh là đô thị công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao, giữ vai trò mắt xích chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Phát triển các trung tâm tài chính, logistics hiện đại nhằm tối ưu hóa lợi thế kết nối trực tiếp trên hai hành lang kinh tế quan trọng: Côn Minh - Hải Phòng và Nam Ninh - Hải Phòng cũng như mạng lưới hành khách – hàng hóa hàng liên kết với các đô thị lớn của thế giới.
- Cấu trúc không gian "Đa cực - Đa trung tâm": Thiết lập mô hình phát triển dựa trên các hạt nhân đô thị hiện hữu và các cực tăng trưởng mới. Ưu tiên phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD) và kiến tạo các trục cảnh quan sinh thái dọc sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị và thiên nhiên.
- Kinh tế xanh và công nghệ tương lai: Thực hiện lộ trình chuyển đổi các khu công nghiệp truyền thống sang mô hình sinh thái, tuần hoàn. Tập trung thu hút các ngành công nghiệp mũi nhọn gồm bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và năng lượng sạch, hướng tới mục tiêu Net Zero và phát triển bền vững.
- Hạ tầng thông minh và quản trị số: Đồng bộ hóa hạ tầng kỹ thuật khung với hạ tầng dữ liệu số. Vận hành chính quyền đô thị hai cấp trên nền tảng số hóa toàn diện, ứng dụng công nghệ trong quản lý quy hoạch và điều hành giao thông, đảm bảo an ninh và nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức đô thị.
- Bản sắc văn hiến và phúc lợi xã hội: Tích hợp di sản văn hóa Kinh Bắc và các giá trị phi vật thể vào không gian đô thị hiện đại. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội, y tế, giáo dục đạt chuẩn quốc tế, hướng tới mục tiêu công bằng xã hội và nâng cao chỉ số hạnh phúc cho cư dân.
- Công cụ quản lý và động lực đầu tư: Thiết lập khung pháp lý cao nhất cho công tác quản lý xây dựng và triển khai các cấp độ quy hoạch tiếp theo. Đây là cơ sở để đô thị Bắc Ninh định hình danh mục dự án trọng điểm, tạo đột phá trong thu hút nguồn lực đầu tư chiến lược từ các tập đoàn đa quốc gia .

15/05/2026

Phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 840/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, với các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và giải quyết các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn của quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nâng cao vị thế và thương hiệu "Make in Viet Nam" trong khu vực và quốc tế.

Chương trình phấn đấu đến năm 2030 doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành trong giai đoạn 2026 - 2030 đạt mức từ 12% trở lên; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm.

Phấn đấu đạt 100.000 doanh nghiệp công nghệ số; đào tạo và phát triển đội ngũ trên 03 triệu nhân lực công nghiệp công nghệ số.

Hình thành 16 - 20 khu công nghệ số tập trung, trong đó tối thiểu có 01 khu công nghệ số tập trung quy mô lớn, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển của vùng kinh tế trọng điểm; hình thành ít nhất 01 Trung tâm tính toán hiệu năng cao dùng chung để giải quyết nhiệm vụ, bài toán lớn, hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm...

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành công nghiệp công nghệ số phát triển, là trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và vươn lên nhóm dẫn đầu thế giới; công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế chủ đạo, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và thịnh vượng quốc gia.

Để đạt được mục tiêu trên, Chương trình đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về công nghiệp công nghệ số; thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; phát triển doanh nghiệp công nghệ số; phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số; phát triển hạ tầng công nghiệp công nghệ số hiện đại, đồng bộ; thúc đẩy, xúc tiến đầu tư cho hoạt động công nghiệp công nghệ số; phát triển thị trường và chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ số; phát triển bền vững công nghiệp công nghệ số; xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu công nghiệp công nghệ số; hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn.

Để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; triển khai các dự án nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn theo quy định pháp luật; hỗ trợ, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm...

Đồng thời, Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số áp dụng các quy trình quản lý chất lượng tiên tiến theo chuẩn quốc tế để nâng cao uy tín sản phẩm, dịch vụ công nghệ số "Make in Viet Nam"; triển khai các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra thị trường quốc tế...

Để phát triển thị trường và chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ số, Chương trình thúc đẩy sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số "Make in Viet Nam"; tổ chức thường niên Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam và Giải thưởng "Sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Make in Viet Nam" để tôn vinh, quảng bá các sản phẩm xuất sắc, tạo uy tín và niềm tin cho người tiêu dùng trong nước; hỗ trợ đưa sản phẩm, dịch vụ công nghệ số vươn ra thị trường toàn cầu...

Về hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn, Chương trình triển khai hỗ trợ kinh phí cho tổ chức, doanh nghiệp thiết kế chip thực hiện; phát triển chuỗi cung ứng và sản xuất thiết bị điện tử nhằm tạo thị trường cho công nghiệp bán dẫn; phát triển và vận hành Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn để hỗ trợ sản xuất thử nghiệm và đo kiểm chip bán dẫn thông qua hoạt động..

(Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh )

Bộ Xây dựng vừa công bố quyết định bãi bỏ, sửa đổi 7 thủ tục hành chính trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn,...
15/05/2026

Bộ Xây dựng vừa công bố quyết định bãi bỏ, sửa đổi 7 thủ tục hành chính trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn, kiến trúc thuộc phạm vi chức năng quản lý của bộ. Quyết định hiệu lực từ 13.5.2026.
Theo đó, từ 13.5, Bộ Xây dựng bãi bỏ thủ tục công nhận chứng chỉ hành nghề kiến trúc của người nước ngoài ở Việt Nam. Đây là thủ tục thuộc cơ quan chuyên môn về kiến trúc thuộc UBND cấp tỉnh
Ngoài ra, Bộ Xây dựng cũng sửa đổi, bổ sung 6 thủ tục hành chính khác, trong lĩnh vực quy hoạch đô thị nông thôn và lĩnh vực kiến trúc, gồm:

Thủ tục phê duyệt quy hoạch, chấp thuận quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn do nhà đầu tư đã được lựa chọn để thực hiện dự án đầu tư tổ chức lập. Thủ tục này thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã quản lý.

Thủ tục công nhận tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo đủ điều kiện thực hiện sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc, thuộc quản lý của Bộ Xây dựng.

Ngoài ra, có 4 thủ tục khác thuộc quản lý của UBND cấp tỉnh sẽ sửa đổi, bổ sung, gồm: cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc; cấp lại chứng chỉ hành nghề kiến trúc bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp; gia hạn chứng chỉ hành nghề kiến trúc; chuyển đổi chứng chỉ hành nghề kiến trúc của người nước ngoài ở Việt Nam.

Các nội dung sửa đổi, cụ thể được quy định tại Quyết định 709/QĐ-BXD.

Trước đó, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cũng đã ký ban hành quyết định thủ tục hành chính, được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực nhà ở, với những thay đổi đáng kể trong đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội.

Theo đó, 2 thủ tục hành chính mới ban hành và 11 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực nhà ở, có hiệu lực thi hành từ ngày 9.2.2026.

Hội Kiến trúc sư tỉnh Bắc Ninh là 1 trong 18 Hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ
04/05/2026

Hội Kiến trúc sư tỉnh Bắc Ninh là 1 trong 18 Hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ

04/05/2026

Điều kiện công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại


Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 19/2026/QĐ-TTg quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt nông thôn mới hiện đại và tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030.

Xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Đáp ứng đầy đủ mức đạt chuẩn theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 ban hành kèm theo 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030. Trường hợp đặc thù xã thuộc phạm vi quy hoạch khu chức năng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định tổ chức thực hiện và áp dụng các yêu cầu đối với nội dung tiêu chí về quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, đảm bảo phù hợp với thực tiễn.

- Sự hài lòng của người dân trên địa bàn xã về kết quả xây dựng nông thôn mới của xã đáp ứng yêu cầu theo hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Xã được công nhận đạt nông thôn mới hiện đại khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Đáp ứng đầy đủ mức đạt theo yêu cầu của Quy định khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026 - 2030 kèm theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg.

- Sự hài lòng của người dân trên địa bàn xã về kết quả xây dựng nông thôn mới hiện đại của xã đáp ứng yêu cầu theo hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cấp tỉnh được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo yêu cầu của Quy định cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 kèm theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg.

- Sự hài lòng của người dân trên địa bàn các xã thuộc cấp tỉnh về kết quả xây dựng nông thôn mới của cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu theo hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/4/2026; thay thế Quyết định số 18/2022/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; Quyết định số 03/2024/QĐ-TTg ngày 07/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 18/2022/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận, công bố và thu hồi quyết định công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới, đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025./.

Address

115 Ngô Gia Tự
Bac Ninh
04

Telephone

+84918366916

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Quy hoạch, Kiến trúc, Xây dựng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Quy hoạch, Kiến trúc, Xây dựng:

Share