Phong Thủy Nhập Môn- Đại Phát Đạt Giúp bạn Không Phí

Phong Thủy Nhập Môn- Đại Phát Đạt Giúp bạn Không Phí 0904244007

16/10/2021

Bài 22
MỘT SỐ THẦN SÁT:

THIÊN ẤT QUÝ NHÂN:
Cổ ca nói: Giáp Mậu Canh ở ngưu dương ( Sửu, Mùi), Ất Kỷ ở Tý Thân, Bính Đinh ở Dậu Hợi. Nhâm Quý ở Mão, Tỵ, Tân ở Dần Ngọ....
Tam Xa nói: Thiên Ất Quý Nhân là được sự thông minh.
Tào Chấn Giai nói: Thiên Ất là một sao tại tả bàng trong chòm Tử Vi, làm chủ tể vạn thần 102 Quý, trị âm dương nội ngoại. Thìn Tuất là vị khôi chỉ nên Quý Nhân chẳng ở đó. Sửu Mùi là sao ở cửa, trước sau chòm Tử Vi, giới hạn cho cửa âm dương nên dương Quý Nhân lấy Giáp gia Mùi thuận hành. Giáp được Mùi, Ất được Thân, Bính được Dậu, Đinh được Hợi, Kỷ được Tý, Canh được Sửu, Tân được Dần, Nhâm được Mão, Quý được Tỵ là Quý Nhân ngày.
Âm Quý Nhân lấy Giáp gia Sửu nghịch hành, Giáp được Sửu, Ất được Tý, Bính được Hợi, Đinh được Dậu, Kỷ được Thân, Canh được Mùi, Tân được Ngọ, Nhâm được Tý, Quý được Mão, đó là Quý đêm.
Mậu lấy dương Thổ trợ Giáp thành công nên được Sửu Mùi......
THÁI CỰC QUÝ NHÂN:
Sinh Giáp Ất tìm trong Tý Ngọ
Sinh Bính Đinh thì gặp gà thỏ
Mậu Kỷ hai can gặp tứ quý
Canh Tân Dần Hợi lộc dồi dào
Nhâm Quý gặp Tỵ Thân tốt đẹp
Được như trên phúc lộc tuôn về

BẢNG TÌM THIÊN ẤT - THÁI CỰC QUÝ NHÂN
- Thí dụ: Muốn tìm Thiên Ất hay Thái Cực thì dựa vào Thiên Can. Chẳng hạn như năm Đinh Hợi (2007) thì Thiên Can của năm là Đinh, nếu tra bảng trên thì thấy Dậu - Hợi là Thiên Ất quý nhân; Mão - Dậu là Thái Cực quý nhân. Cho nên trong năm đó thì những tháng, ngày, giờ Dậu - Hợi đều là Thiên Ất quý nhân. Những tháng, ngày, giờ Mão - Dậu đều là Thái Cực quý nhân. Vì vậy, nếu chọn tháng, ngày, giờ Dậu sẽ được cả Thiên Ất lẫn Thái Cực quý nhân.
Kế đó, trong tháng Giáp thì những ngày, giờ Sửu - Mùi là Thiên Ất; những ngày, giờ Tý - Ngọ là Thái Cực; Rồi trong ngày Giáp lại có các giờ Sửu - Mùi là Thiên Ất; các giờ Tý - Ngọ là Thái Cực....
NGUYỆT ĐỨC:
Là Đức thần trực tháng và ngày, dụng luôn cho cả phương hướng và thời gian. Chủ đạo việc động thổ xây dựng và nhiều việc quan trọng khác trong sinh hoạt của nhân dân.
Công thức: Lấy chi làm thể chủ đạo chỉ tháng và ngày lấy can làm phương hướng và thời gian sử dụng. Ví dụ: tháng giêng là tháng Dần ứng hợp với ngày Dần. Xét về phương hướng như tháng Tý Nguyệt Đức tại Nhâm thì phương Nhâm là phương của Nguyệt Đức. Xét về thời gian thì ngày Nhâm là Nguyệt Đức của tháng Tý.
- Ngày cũng vậy, ngày Tý phương Nhâm là phương Nguyệt đức, giờ Nhâm là giờ Nguyệt đức của ngày Tý.
- Chi Tý: Nguyệt đức tại Nhâm
- Chi Sửu: Nguyệt đức tại Canh
- Chi Dần: Nguyệt đức tại Bính

* Thiên Đức hợp: Cát thần trực tháng và ngày giống như Nguyệt Đức.
- Chi Dần: Thiên đức hợp tại Nhâm.
- Chi Thìn: Thiên đức hợp tại Đinh.
- Chi Tỵ: Thiên đức hợp tại Bính.............
+ Chú ý: Ở 4 tháng hoặc 4 chi trọng gồm Tý - Ngọ - Mão - Dậu không có phương và thời gian của Thiên Đức hợp
* Nguyệt Đức hợp: Nguyệt Đức hợp là cát thần trực ngày trong tháng tính theo phương và thời gian nhưng chú trọng đến thời gian nhiều hơn tháng lấy chi làm chuẩn, dụng lấy can làm thể.
- Tháng Dần: Nguyệt đức hợp tại Tân
- Tháng Mão: Nguyệt đức hợp tại Kỷ
BẢNG TÌM THIÊN ĐỨC - NGUYỆT ĐỨC
Bảng cục giờ Quý đăng thiên môn
( Đệ nhất thời thần )
Trích sách: Huyền Môn Phong Thủy Thực Dụng - tác giả Nguyễn Ngọc Vinh
Theo Phong Thủy Huyền Không Bạch Hạc Minh:
Phần Ai Tinh Trực hướng:
Ai tinh trực hướng

Phép lập hướng ngoài chính hướng và kiêm hướng còn một dạng gọi là trực hướng. Chính hướng dùng tinh bàn là hạ quái bàn, kiêm hướng dùng tinh bàn là thế quái bàn.
Trực hướng kiêm hướng gần xuất quái(kiêm từ 6 độ trở lên) gồm có thác quái và hỗ quái, phép dùng xuất từ Chương Trọng Sơn, đương thời gọi cục thế này là ảo mã, càng thác thì càng trực, càng ảo thì càng chính.
Sau khi lập vận bàn, tại hướng thì lấy vận tinh hướng phối Khôn Nhâm Ất quyết, tuy nhiên không nhập trung cung phi động mà bài tại hướng thượng phi động theo lường thiên xích; tại sơn thì lấy vận tinh sơn phối Khôn Nhâm Ất quyết, tuy nhiên không nhập trung cung phi động mà bài tại sơn phi động theo lường thiên xích. Không theo âm dương 24 sơn phi thuận nghịch mà cứ thác quái thì phi thuận, hỗ quái thì phi nghịch, đây là điểm đặc biệt của trực hướng.

Bài của Cụ Tri Tri:



Vận 1 Tọa Tị Hướng Hợi Kiêm Bính Nhâm Vận 1 lập hướng nầy, đầu hướng phải có nước, vi 1 bạch thủy ứng tại Hợi, Ai đoài 2, cấn 3, ly 4, khảm 5, khôn 6 , chấn 7, tốn 8, một phương có nước thì vượng được 20 năm Tài Đinh, như được thêm 1 phương thủy chiếu, tức được thêm 20 năm vượng khí, do hướng rồi đoài chí tốn liên tiếp không dứt ,tức vượng 160 năm đến nhập trung cung vận 9 thì mới hết, nếu ngưng đứt tại phương nào, tức đình tại vận

đó, Ấy là Trực Hướng vượng tinh thâu thủy pháp. ( Cục Nầy Bại Trưởng )

Trực Hướng 2. Vận 1 tọa Tốn hướng Kiền kiêm Thìn Tuất Đồ . Cục nầy vận tinh 2 đáo hướng, thiên nguyên 2 là khôn, khôn tức Cự Môn, nên hướng thượng Ai 2 là sinh hướng thuận hành 1 nhập trung cung, sơn y theo vậy mà thôi, mổi vận phân thượng hạ 2 tuần phàm sinh hướng nghi dụng ư hạ tuần, các vận khác cũng vậy . Bổn sơn tọa Tốn hướng Kiền kiêm Thìn Tuất thuộc Bát Thuần Quái kị bình kiêm, xuất khiếp nhược phạ sự, phản phúc vô thường chi nhân .
Trực Hướng Đồ 3 . Vận 1 Tọa Giáp hướng Canh kiêm Dần Thân. Cục nầy vận tinh 3 đáo hướng, Địa Nguyên 3 là Giáp, Giáp tức Tham Lang, nên hướng thượng Ai 1 vi vượng hướng thuận hành nhập trung cung, sơn cũng y theo vậy mà thôi . Cục nầy bại tam phòng, nhị phòng . Xuất kẻ bệnh tinh thần. Tự sát chi nhân .


Trực Hướng Đồ 4 . Vận 1 Tọa Ất hướng Tân kiêm Thìn Tuất. Cục nầy vận tinh 3 đáo hướng, Địa Nguyên 3 là Ất, Ất tức Cự Môn nên hướng thượng Ai 2 vi Sinh hướng thuận hành 9 nhập Trung cung, sơn cũng y theo vậy mà thôi . Cục nầy dâm loạn vô tự phát thiên phòng . ( dòng vợ nhỏ )

Trực Hướng Đồ 5 . Vận 2 Tọa Tuất hướng Thìn kiêm Tân Ất Cục nầy vận tinh 1 đáo hướng, Địa Nguyên 1 là Nhâm, Nhâm tức Cự Môn nên hướng thượng Ai 2 vi Vượng hướng thuận hành 3 nhập Trung cung, sơn cũng y theo vậy mà thôi . Cục nầy khắc Thê tổn Đinh, bất vụ chánh nghiệp, hoài tài bất ngộ .


Trực Hướng Đồ 6 . Vận 6 Tọa Dậu hướng Mão kiêm Canh Giáp Cục nầy vận tinh 4 đáo hướng, Thiên Nguyên 4 là Tốn, Tốn tức Vũ khúc, nên hướng thượng Ai 6 vi Vượng hướng thuận hành 8 nhập Trung cung, sơn cũng y theo vậy mà thôi . Cục nầy đại kị - bị phá sản , phạm pháp, dậu canh bình kiêm càn hung.


Trực Hướng Đồ 7. Vận 6 Tọa Canh hướng Giáp kiêm Thân Dần Cục nầy vận tinh 4 đáo hướng, Địa Nguyên 4 là Thìn, Thìn tức Vũ khúc, nên hướng thượng Ai 6 vi Vượng hướng thuận hành 8 nhập Trung cung, sơn cũng y theo vậy mà thôi . Cục nầy tổn Nữ nhân, phá tài, đệ huynh bất hợp, xuất kẻ tòng quân.


Trực Hướng Đồ 8. Vận 8 Tọa Hợi hướng Tị kiêm Nhâm Bính. Cục nầy vận tinh 7 đáo hướng, Nhân Nguyên 7 là Tân, Tân tức Phá Quân, nên hướng thượng Ai 7 nghịch hành 6 nhập trung cung, sơn cũng y theo vậy mà thôi . Cục nầy thương tổn Nam nhân, phát Quả Phụ, lâu sẽ bại tuyệt. Trực
Hướng Cục có ảnh hưởng hung bại đến đây đả ghi đầy đủ .

Bảng tóm tắt Huyền không phi tinh vận 8

16/10/2021

Bài 21
Vài cách sát trong Huyền Không

- Những người mới áp dụng Huyền Không nên lưu ý nhiều đến những cách sát, bởi do học thuật hoặc kinh nghiệm còn hạn chế dễ bị bỏ qua những cách sát gây tổn hại âm đức cho mình và cho người. Nếu đã ứng dụng theo Huyền Không thì trước hết hãy theo Huyền Không từng bước cho chuẩn, sau đó có kết hợp thêm Phong Thuỷ Bát Trạch khi kinh nghiệm đã tốt rồi. Huyền Không đặc biệt chú trọng tới việc vận dụng Lý khí sao cho phù hợp với Loan đầu vì vậy Hình – Lý là hai khái niệm bắt buộc không thể thiểu khi vận dụng Huyền Không. Người tìm hiểu Huyền Không nên tìm hiểu về Loan đầu thấu đáo trước, đặc biệt là những khảo cứu cho môi trường đô thị hiện đại bây giờ.

- Về lý khí, Huyền Không đặc biệt coi trọng sự vượng suy của khí, đôi khi ngũ hành chỉ là thứ yếu, đừng quá xét quan hệ của ngũ hành sinh khắc giữa các ai tinh, các phi tinh mà quên đi tính chất vượng suy tử của các sao. Sự vượng suy phân ra chi tiết, sao chính vận ví dụ vận 8 là Bát Bạch gọi là sao đương vận, khí nó mạnh nhất và có sức chi phối lớn, tiếp theo là sao vượng khí và sinh khí Cửu Tử, Nhất Bạch. Các sao sinh khí có sức chi phối yếu hơn nhưng cũng là cát tinh, đặc biệt trong đương vận các sao này có thể yếu nhưng sang những vận sau nó lại trở thành hữu dụng đó là trường hợp tính toán cho tương lai nhất là vận dụng trong âm phần mồ mả. Trong một cùng cặp sơn tinh và hướng tinh bước đầu phải xét xem quan hệ của sơn tinh hay hướng tinh thì cái nào là chủ cái nào là khách, sau đó xem chủ vượng hay khách vượng, nếu khách vượng khắc chủ thì là cát mà sinh nhập chủ cũng là cát. Nếu sao khách là suy tử thì luận là hung, kế tiếp mới dùng ngũ hành luận mức độ nặng nhẹ và biến tướng cụ thể của học phúc. Đừng luận máy móc (VD như những bài của anh kepnhut có giá trị nhưng những người mới học không tinh dễ sa đà quá vào ngũ hành)

- Trong tinh bàn cần luận chủ yếu sự hung sát của hai cung sơn và hướng, đó là hai cung rất quan trọng đặc biệt là trong môi trường dương trạch ở đô thị bây giờ. Cách cuộc vượng sơn vượng hướng thường là cát vì đảm bảo đượng yêu cầu nay vì hai cung sơn hướng đều có vượng tinh chiếu, nếu phối hợp với loan đầu nữa thì thật tốt. Có điều so với cách hợp thập (toàn ban có sao sơn - vận hơp 10, hoặc hướng - vận hơp 10) thì cón kém xa bởi cách hợp thập toàn ban đều vượng, khí các quẻ thông nhau, ví dụ 4, 6 là hai cung Càn, Tốn tức Thiên Môn và Địa Hộ , Càn vượng thì Tốn vượng nên chỉ cần một cung vượng toàn ban đều vượng, địa vận lại kéo dài chứ không như cách vượng sơn vượng hướng, nếu sang vận mới mà hướng tinh chuyển vào trung cung thì gọi là nhập tù như vậy phúc đã hết chuyển thành hoạ ngay.

- Nếu phạm vào cách thướng sơn hạ thuỷ tức là sao đương vận ở sơn và hướng bị đảo lộn là cách xấu nên bỏ không dùng hoặc nên dùng kiêm hướng bởi theo Huyền Không thì long thần và sơn thần bị đảo lộn phương vị chủ phá tài tổn đinh . Nếu bắt buộc dùng thì xem tinh bàn có cứu lại được cách phụ mẫu tam ban quái hay không. Có mấy loại phụ mẫu tam ban như sau. Nếu 3 cung Ly Chấn Càn có các sao hợp thành các bộ 147, 258,369 gọi là Ly cung đả kiếp tức là một vận vượng, vd vận 1 vượng thì cướp được vượng khí của cả 2 vận 4 và 7 và nhìn trên tinh bàn thường thấy khí thông nhau từ quẻ Ly đến trung cung ra qủe khảm, thấy có các cặp sao sinh thành nối liền 3 cung. Tương tự khảm đả kiếp là các bộ sao 147, 258,369 xuất hiện ở 3 cung Khảm Tốn Đoài. Còn 3 cung Cấn Trung và Khôn nếu xuất hiện Tam Ban Quái thì gọi là Tam Ban Xảo Quái. Mức độ tốt lành là Ly Đả Kiếp, Khảm Đả Kiếp rồi đến Tam Ban Xảo Quái. Trường hợp toàn ban mà mỗi cung đều là bộ số tam ban thì rất tốt. Lúc này dù thướng sơn hạ thuỷ cũng vẫn tốt như thường bởi khí đã liên thông giữa các vận chuyển hung thành cát, chỉ cần xem địa hình ở hai cung toạ hướng tốt lành nữa là yên tâm dùng. Chú ý là có quẻ tam ban rồi để biến thành phúc phải có giải pháp thiết kế phù hợp cho mối phương vị của quẻ.

- Ngoài thướng sơn hạ thuỷ phải kiểm tra xem tinh bàn có sao nào nhập trung là 5 không, như vậy nếu Ngũ đi thuận thì phạm phục ngâm, đi nghịch phạm phản ngâm (các sao sơn hướng lặp lại sao của vận hoặc đối ngược với sao của vận) chủ khắc hãm xấu không nên dùng.

- Kiểm tra xem tinh bàn ở hướng (rất quan trọng) và ở sơn xem cát hung thế nào, tránh các sao suy tử, sao thoái khí có thể tạm dùng nhưng phải kết hợp với một vài cách tốt khác, nếu không gặp năm có sao thoái khí hoặc tử khí sinh trợ thì hoạ đến. Nếu ở hướng bị phạm phải luận là hao tài, ở sơn là tổn hại quan hệ gia đình và con cái.

- Tránh các bộ sao Lục Thất (Thương kiếm sát), Tam Thất (Xuyên Tâm Sát), Nhị Thất (Đấu Ngưu Sát) ở sơn, hướng, minh đường.

- Kỵ Ngũ Hoàng đại sát : Nếu Ngũ hoàng xuất hiện ở sơn hướng nên tránh vì Ngũ Hoàng là tối độc không thể xâm phạm. Duy có vận 5 Ngũ Hoàng là Chính Quan Mậu Kỷ rất tốt nếu nhập toạ hướng phát sinh phúc lớn hơn hẳn các sao khác bởi quyền lực nó lớn hơn.

- Khi động thổ phải xem có phạm năm Thái Tuế hay không ? Ví dụ năm Tí không nên toạ hướng Tí cùng lắm là Toạ không thể hướng. Nếu xét tinh bàn là cách vượng thì không sợ thái tuế, chỉ sợ hung thì thái tuế làm họa đến mau hơn. Xem thêm cả tam Sát. VD tháng, năm Thân Tí Thìn sát ở 3 phương Tỵ Ngọ Mùi nên tránh động chạm đến 3 phương này. Ngoài ra Huyền Không còn dùng cả Phi Thái Tuế, Ám Kiến (chỉ dùng cho tháng)

- Xem xét địa hình xung quanh đặc biệt sơn thuỷ phối ứng với tinh bàn. Trong đô thị thì là ngã 3 ngã tư, ao hồ, sông ngòi, gò đống, mái nhọn, nghĩa trang, các toà nhà xung quanh phối với những cung xấu trong tinh bàn xem có phạm gì không ? VD một cung càn có sao 5, 9, phương ấy lại có nghĩa trang là rất xấu bởi Ngũ Cửu là cặp sao gây hoạ lớn, gặp nghĩa trang âm khí nhiều tổn hại cho người cha già, nữ trong nhà. Nếu mở cửa phụ, cửa sổ thì càng độc hơn, từ đó có cách trấn yểm ngay kịp thời thì sẽ tránh được điều xấu.

Bài sưu tầm từ Huyền Không Lý Số:
Sự kết hợp của các cặp sơn - hướng tinh hoặc đường lối đi trong hay ngoài nhà tạo thành các cặp hướng tinh cũng nói lên nhiều ý nghĩa trong bố cục của căn nhà.
Những cách 1-6, 2-7, 1-4, 6-7 đều đáng kể và phải được đặc biệt chú tâm tới, nhất là nếu chúng lại có ngoại hình hay cấu trúc bên trong ứng hợp, mức độ tốt, xấu sẽ từ đó biểu hiện hoặc gia tăng khốc liệt. các cặp 1-6, 1-4 không bao giờ bị luận là suy tử, chỉ trừ khi bị ngoại hình bên ngoài làm hỏng mà thôi, còn thường thì chúng đều rất tốt đẹp. Cặp 2-7 chỉ tốt nếu chúng là vượng khí, hoặc đi với những khí sinh, vượng là Thổ như 5, 8. Còn nếu không thì cần phải đề phòng. Cặp 6-7 là Giao kiếm Sát thì chỉ trừ lúc 1 trong 2 sao là khí sinh, vượng thì không sao, còn nếu không thì sẽ có vấn đề tranh chấp hay bị trộm cướp hoặc án mạng.
Cũng có thể dùng 1-6, 2-7 để luận Ngũ hành sinh, khắc của cung này, nhưng như đã nói là vẫn phải để ý đến ngoại hình và thiết kế, cũng như động tĩnh của khu vực này trước, sau đó mới tính đến vấn đề Ngũ hành sinh khắc, và vì vậy sẽ có muôn ngàn trường hợp khác nhau, tuy rằng trạch vận căn nhà thì giống nhau. Lấy thí dụ như khu vực này của 1 căn nhà mà có hồ tắm thì 1-6 đắc thế, khu vực này có kim-thuỷ vượng, chủ sinh ra người tài hoa, văn chương cái thế, học hành giỏi dang. 2-6, nếu như khu vực này lại có núi thì lúc đó Sơn tinh 2 vượng, nhưng là tử khí nên là cách trong nhà phát sinh quả phụ, người đàn ông trong nhà nếu có giỏi dang cũng yểu chết, khó thành danh. Nếu chỗ đó có bếp cũng chủ nhân đinh suy bại, gặp năm niên tinh 7 tới hoá hợp thành Hoả tiên thiên 2-7 là Hoả vượng khắc Kim 6, sợ rằng người cha, người chủ gia đình có tai hoạ lớn. Cho nên Huyền Không là biến hoá, muôn hình vạn trạng, chứ không có 1 công thức nhất định tính độ vượng, suy của ngũ hành hoặc phi tinh.
Cặp 3-8/ 8-3 cũng vậy, tuỳ theo địa hình, cấu trúc mà tính chúng là tốt hay xấu trong vận 8. Nhưng thông thường thì chúng là tốt, nhất là nếu nơi đầu hướng có 8, bên mé phải hoặc trái lại có 3.
- 1-6: Hợp hoá thành thuỷ tiên thiên, nếu có nước thì đắc lôi quan thuỷ, lợi cho tài vận và công danh.
- 2-7: Hoà tiên thiên: Chủ bệnh tật nặng và lâu dài, rất có thể bị đau tim và cao máu.
- 7-9: Hoả hậu thiên : Bực bội, thần kinh căng thẳng.
- 4-9: Kim tiên thiên: Nếu ở cung càn thì công danh thuận lợi. học hành thi cử đỗ đạt.
- 3-8: Mộc tiên thiên: Đại lợi cho công danh và tài lộc.
- 9-2: Lưỡng âm hoả: Có chuyện xích mích, cãi cọ.
- 6-7: Thương kiến sát: Chủ về tai nạn thương tật hoặc trộm cướp.
- 2-7: Đấu ngưu sát: Chủ về tranh chấp dẫn đến đánh nhau.
- 3-7: Xuyên tâm sát: Chủ về cãi cọ, bất hoà,...
- Các cung có các sao toàn âm (-) : 2;4;5;7;9. Vdụ: 9-4-7 hoặc 5-9-2; ...Nếu có thuỷ ở đó là nguy hại cho ngườii đàn ông trong nhà, nên đoán nếu người chồng không bỏ nhà đi xa thì ắt phải chết sớm .
- Tam ban quái ở trung cung (258; 369; 147): Gia đình hòa thuận, con cái ngoan hiền, có chí,...
- Hỏa khí quá mạnh: Như nhà tọa dậu hướng mão vận 7: Đầu hướng có 2-7(hỏa tiên thiên) lại thêm vận tinh 5 rồi vào trung cung gặp 9-7 (hỏa hậu thiên) cộng với hướng tinh 5 cũng đếu là hỏa . Rồi đến phương tọa gặp 7-9 cũng hỏa hậu thiên thêm hướng tinh 3 là thế mộc sinh hỏa. Mà hỏa thịnh thì khắc kim nên đương nhiên ngực, phổ, cổ họng bị đau. Còn một yếu tố nữa là nhà có hỏa khí mạnh thì con người bực bội nên trong nhà hayTHẦN SÁT
Nói chung là những tinh tú trong không gian, thời lệnh của trái đất, Can - Chi, Ngũ Hành của năm, tháng, ngày, giờ, cũng như những phương vị hợp, xung, khắc....với chúng mà tạo ra "Thần Sát". Trong nghệ thuật Phong thủy và Tuyển trạch (chọn ngày tốt ) của Trung Hoa, số lượng về Thần Sát rất lớn, có thể lên tới hàng ngàn, với đủ mọi loại Thần: Cát, Hung, Thiện, Ác. Tuy nhiên, Huyền Không phái lại chỉ chú trọng vào Phi tinh, xem chúng là yếu tố quyết định, nên đã loại bỏ hầu hết Thần sát, chỉ còn chú ý đến 3 "lực" có ảnh hưởng mạnh nhất trong tất cả các Thần Sát là Thái Tuế, Tuế Phá và Tam Sát.
* THÁI TUẾ:
Là Mộc tinh ( hay Jupiter), 1 hành tinh lớn nhất trong Thái Dương hệ ( có trọng lượng gấp 2 1/2 trọng lượng của mọi hành tinh khác trong Thái Dương hệ cộng lại, chưa kể thêm với 63 "vệ tinh" đồ sộ như vậy, nên Thái Tuế có 1 ảnh hưởng rất lớn đối với trái đất và con người. Người Tây phương đặt tên nó Jupiter, tức vị thần tối cao nhất trong các thần. Người Trung Hoa gọi nó là Thái Tuế, có nghĩa là sao đứng đầu trong 1 năm. Hoặc Tuế Quân, tức là Vua ( hay chủ) của cả năm đó. Sách "Thần khu Kinh" viết : Thái Tuế là tượng nhân quân (vua), dẫn đầu chư thần". Cho nên Thái Tuế là Thần Sát tối cao, có sức mạnh nhất, cai quản mọi cát hung của cả năm đó. Nó có thể tạo phúc, hoặc gây tai họa lớn, tùy theo phương vị hay Địa chi của đối tượng là thuận, nghịch, hay hình xung, khắc hại nó mà ra.
* Phương vị của Thái Tuế:
Muốn biết phương vị của đối tượng là thuận hay nghịch với Thái Tuế thì trước tiên phải biết được vị trí của nó. Biết rằng Mộc tinh ( tức Thái Tuế ) di chuyển chung quanh mặt trời, khoảng 12 năm mới hết 1 vòng, nên người xưa mới lập ra chu kỳ 12 con Giáp để tính vị trí của Thái Tuế theo từng năm như sau:
- Năm Tý thì Thái Tuế ở phía Bắc gồm cả Nhâm - Tý - Quý
- Năm Sửu thí Thái Tuế đến phương Sửu
- Năm Dần thì Thái Tuế đến 2 phương Cấn - Dần.
- Năm Mao thì Thái Tuể ở phía Đông, gồm cả Giáp - Mão - Ất
- Năm Thìn thí Thái Tuế đến phương Thìn
- Năm Tỵ Thái Tuế đến 2 phương Tốn - Tỵ
- Năm Ngọ thì Thái Tuể ở phía Nam, gồm cả Bính - Ngọ - Đinh
- Năm Mùi thì Thái Tuế đến Mùi
- Năm Thân thì Thái Tuế đến 2 phương Khôn - Thân
- Năm Dậu thì Thái Tuế ở phía Tây, bao gồm cả 2 phương Canh - Dậu - Tân.
- Năm Tuất thì Thái Tuế đến Tuất
- Năm Hợi thì Thái Tuế đến 2 phương Càn - Hợi.
Vì Thái Tuế là 1 hành tinh khổng lồ ( có trọng lượng gấp 318 lần trái đất, chưa kể những "vệ tinh" chung quanh nó) lại di chuyển với vận tốc rất lớn ( hơn 40 triệu miles/ 1 năm- tức 64 triệu km - hay khoảng 1/2 tốc độ di chuyển của trái đất chung quanh mặt trời), cho nên khi nó đi đến đâu sẽ thu hút rất trường khí và từ lục trong không gian về phía đó. Chính vì thế nên người ta thường tránh né khu vực mà Thái Tuế đến, cho rằng nơi đó tập trung quá nhiều dương khí, nên nếu "động" sẽ có hại. Do đó, nhiều sách vở thường cho ràng "Thái Tuế" nên phương tọa, chứ không nên nằm nơi "đầu hướng" của 1 căn nhà. Thật ra, lý do cho rằng Thái Tuế nằm ở phương tọa thì không sao là vì nơi đó thường yên tĩnh, ít hoạt động. Còn phía trước nhà bao giờ cũng có động khí, nên sẽ làm cho khí lưu chuyển mạnh mà đêm đến nhiều tai họa.
Tuy nhiên, đây chỉ là 1 nguyên tắc chung, cần phải hiểu cho cặn kẽ và ứng biến linh hoạt, chứ không thể áp dụng 1 cách cứng nhắc hoặc "máy móc". Biết rằng Thái Tuế đi đến đâu thì mọi trường khí, từ lực trong không gian đều bị thu hút về đó, nên bản chất của khu vực Thái Tuế đến đã là "động". Nếu như nơi đó lại có Suy, Tử khí, thì hung khí sẽ bị Thái Tuế và những trường khí được thu hút về đây làm cho chấn động, lưu chuyển mạnh mẽ hơn. Chỉ nguyên điều này cũng đã có thể gieo rắc nhiều tai họa. Nếu như nơi đó chẳng may lại bị người ta làm náo động như sửa nhà, chặt cây, đào móng, hoặc là nơi có đường lộ lớn, cửa vào nhà.....thì hung khí sẽ bị làm chấn động quá mãnh liệt, cho nên tai họa sẽ càng dữ dội hơn. Chính vì vậy nên người xưa mới sợ, không dám "phạm" đến phương của Thái Tuế. Nhưng nếu nơi này không bị náo động, lại tường bịt kín, hung khí không thể vào nhà, thì tác động của Thái Tuế sẽ được giảm bớt nhiều nên có khi vô hại.
Ngược lại, nếu khu vực mà Thái Tuế đến lại Sinh, Vượng khí, thì cát khí tại đây sẽ được Thái Tuế và các trường khí khắp nơi kéo về làm cho luân chuyển, di động mạnh, nên phúc, lộc sẽ tự nhiên mà đến. Nếu nơi này được tu sửa, động thổ, hoặc có cửa ra, vào thì cát khí càng được xung động mạnh, nên đã vượng lại càng thêm vượng, nhiều điều vui hoặc may mắn bất ngờ sẽ đưa tới trong năm đó.
Cho nên phải hiểu được nguyên do là nơi có Thái Tuế đến đang từ "Tĩnh" sẽ chuyển thành "động", rồi tùy theo khu vực đó có cát khí ( tức Sinh, Vượng khí ) hay hung khí ( tức Suy, Tử khí ), cũng như địa thế Loan đầu như thế nào mà sẽ phát sinh phúc lộc hoặc tai họa. Chứ không phải nếu Thái Tuế đến phương tọa ( phía sau nhà ) là sẽ bằng an, vô sự. Còn nếu đến phía trước nhà thì mới có tai họa xảy ra. Cung như không thể áp dụng biện pháp "hóa giải" cứng nhắc là cứ hễ thấy Thái Tuế tới phương nào thì ngồi xoay lưng về phương đó là tự cho rằng đã hóa giải được hung họa!!!!.
Trong vấn đề xây dựng hoặc tu sửa nhà cửa, cần phải luôn luôn chú trọng tới khu vực có Thái Tuế. Đối với vấn đề xây dựng nhà cửa thì phải xem năm đó Thái Tuế đến phương nào của căn nhà? Nếu Thái Tuế đến tọa thì nơi đó cần phải có vượng khí của Sơn tinh, chủ đại lợi cho sức khỏe hoặc nhân đinh. Nếu Thái Tuế đến hướng thì phía trước nhà cần có vượng khí của Hướng tinh, chủ đại lợi cho công việc và tài lộc. Có như thế sau khi xây nhà xong và vào ở thì lập tức sẽ có tin mừng, may mắn về nhân đinh hay tiền bạc.
Ngược lại, nếu gặp năm xây nhà có Thái Tuế đến phương tọa. Phương này có suy, tử khí của Sơn tinh, thì sau khi xây xong và dọn vào ở sẽ có tai họa về nhân đinh, gia đình đau ốm, bệnh tật, thậm chí có thể chết người. Nếu là nằm Thái Tuế đến phía trước nhà, nơi đó lại có Suy, Tử khí của Hướng tinh, thì sau khi dọn vào ở sẽ bị hao tán tiền bạc, công việc thất bại, hoặc dễ bị thưa kiện, phạm pháp, hình ngục.
Nếu gặp năm xây nhà mà Thái Tuế đến những khu vực thuộc 2 bên hông thì thường ít có vấn đề gì xảy ra, nhưng chỉ với điều kiện là khu vực mà Thái Tuế đến có tường che kín, địa thế bên ngoài cũng không có gì đặc biệt. Còn nếu như bên đó có cửa ra vào thường được sử dụng, hoặc bên ngoài có hồ tắm, hay ao, đầm, sông, núi....thì tùy theo phi tinh nơi đó là Sinh, Vượng hoặc Suy, Tử mà sẽ xảy ra những vấn đề tốt, xấu.
* Sự hình xung, khắc hại đối với Thái Tuế:
Trong "Thẩm thị Huyền Không Học", Bạch Hạc Minh có đề cập đến vấn đề "niên canh xung Thái Tuế", tức năm sinh của 1 người xung với Thái Tuế, như người sinh vào năm Dần mà đến những năm Thân là tuổi bị xung Thái Tuế. Vấn đề tuổi xung Thái Tuế như thế này chưa chắc đã xấu, mà còn tùy thuộc vào tháng, ngày, giờ sinh của người đó, cộng với vận hạn như thế nào nữa. Điều này đòi hỏi phải có kiến thức khá tinh vi về Tứ Trụ mới có thể đoán biết. Ở đây, trong giới hạn Phong thủy, những người có niên canh xung Thái Tuế tuy chưa chắc đã là xấu, nhưng nếu phương vị hoạt động thường ngày của họ, nhất là giường ngủ, bàn làm việc, hoặc cửa ra vào....mà nằm tại những khu vực thuộc phương vị của tuổi hoặc của Thái Tuế thì chắc chắn sẽ có trở ngại hoặc gặp tai họa.

BẢNG TÍNH PHUƠNG VỊ THÁI TUẾ - TUẾ PHÁ
Nói "xung động" tới phương vị của Tuế Phá tức là ngủ, làm việc, hoặc cửa ra vào nhà, tu sửa nhà cửa tại khu vực của Tuế Phá. Chằng hạn như năm Thìn thì Tuế Phá tại Tuất. Nếu giường ngủ hoặc phòng ngủ mà đặt nơi đó trong nhà ( tính theo tâm nhà) thì sẽ có tai họa hay bị bế tắc.
Vấn đề cửa ra, vào nhà ( hay hướng nhà) mà nằm vào khu vực của Tuế Phá trong năm thì dù cửa hoặc hướng đắc Sinh, Vượng khí cũng sẽ gặp ít nhiều trục tạch, khó khăn, mọi công việc vẫn không được suôn sẻ như bình thường hoặc phải hao công, tốn sức hơn những năm khác mới đạt được ý muốn. Nếu cửa còn gặp phải Suy, Tử khí sẽ là 1 năm đại bại, tài lộc khó khăn, mọi sự bế tắc. Thậm chí còn có thể bị những tai họa như kiện tụng hay hình ngục nữa.
Đối với việc tu sửa nhà cửa, nếu đó là khu vực bị Tuế Phá, nhưng đắc Sinh, Vượng khí thì vẫn có thể miễn cưỡng làm được. Tuy cùng gặp 1 số trục trặc, khó khăn, nhưng sẽ qua khỏi chứ không có tai họa gì lớn. Nếu nơi đó có Suy, Tử khí thì hung họa nặng, có thể đi đến tán gia bại sản. Nếu khu vực này khi tu sửa còn được làm rộng thêm ra thì âm khí càng nhiều mà chống lại dương khí, khiến cho tai họa càng nặng, người trong nhà có thể mang bệnh tật, thương tích hoặc tử vong.
Ngoài ra, vấn đề dụng chạm tới Thái Tuế không những chỉ trong phạm vi của phương vị sinh hoạt, tu sửa nhà cửa, mà còn ngay cả tới vấn đề chọn ngày tốt, xấu cho việc cưới hỏi, nhập trạch......Cho nên trong bất cứ năm nào mà những tháng, ngày, giờ có địa chi xung với năm đó thì đều bị xem là tháng Tuế Phá, ngày Tuế Phá, giờ Tuế Phá. Những tháng ngày đó không thể được tuyển chọn làm ngày cưới hỏi hay nhập trạch, khởi sự công việc làm ăn.....Nếu chọn sẽ gặp trở ngại hoặc tai họa sau này.

•TAM SÁT gồm : KIẾP SÁT, TAI SÁT, TUẾ SÁT
- Kiếp sát: Là âm khí của tuế. Chủ có sát hại. Phương nó quản kị khởi tạo. Phạm vào chủ có việc trộm cướp làm tổn thương sát hại. Kiếp sát năm Dần ngọ tuất tại Hợi, năm Hợi mão mùi tại Thân, năm Thân tý thìn tại tị
- Tai sát: là ngôi vị của ngũ hành âm khí. Thường đóng trước Kiếp sát một thời. Chủ việc tai bệnh, tật ách. Phương nó quản không thể tu tạo hướng đến. Phạm vào mắc phải bệnh hoạn.
- Tuế sát: là sát của âm khí, đó là đặc biệt độc. Thường đóng ở tứ quí, bảo rằng âm khí của của tứ quí được đi chơi trên trời. Đất của tuế sát không thể đục khoét, tu tạo, di chuyển, phạm vào thương tổn con cháu, lục súc
Kiếp sát, tai sát, tuế sát là Tam sát. Tam hợp ngũ hành ở ngôi vị Tuyệt, Thai, Dưỡng. Tuyệt thai dưỡng này ở sau mộ khố. Trường sinh ở trước. bảo rằng đúng là âm khí. Hoặc bảo rằng tam sát là xung với tam hợp ngũ hành đương vượng vì vậy mới nói nên hướng vào mà không nên ngồi vào. Như vậy, Thân tý thìn hợp thủy cục, thủy vượng ở phương bắc, nó xung ở phương Nam, vì vậy tam sát ở phương Nam tị ngọ mùi , các trường hợp khác cũng suy như vậy.
Phương vị của tam sát như sau
- Năm Thân tí thìn tại tị ngọ mùi phương Nam
- Năm Dần ngọ tuất tại Hợi tý sửu phương Bắc
- Năm Hợi mão mùi tại Thân dậu tuất phương Tây
- Năm Tị dậu sửu tại Dần mão thìn phương đông
Thông thường, trong sách vở hay cho rằng nếu Tam Sát đến nơi đầu hướng ( tức phía trước ) thì không sao, còn đến phía sau mới có tai họa. Thật ra, đây cũng là nguyên lý chung, nếu không hiểu rõ sẽ áp dụng 1 cách cứng nhắc hoặc máy móc, thậm chí dẫn đến tai họa. Biết rằng sự xung sát giữa Tam hợp cục ( Tức Tam hợp Thái Tuế ) và Tam hội cục ( tức Tam Sát) là sự xung sát rất lớn, rất mạnh và quyết liệt. Nhưng trong sự xung khắc này vẫn phải chia ra bên động, bên tĩnh. Bên "động" là Tam hợp Thái Tuế, bên "tĩnh" là phương vị của Tam Sát. Hợp Thái Tuế sẽ đến hướng ( khu vực động ), tức là bên "động" lại càng "động", bên "tĩnh" sẽ càng "tĩnh". Lực xung khắc do đó sẽ càng dữ dội hơn, nên sẽ gây nhiều tai họa. Còn nếu Tam Sát đến hướng, thì Tam hợp Thái Tuế sẽ đến tọa. Lúc đó, cả 2 lực đối xung này đều nằm tại những khu vực trái ngược bản chất của nó, nên lực của cả 2 bên đều bị suy giảm. Vì thế chúng sẽ không còn xung khắc nhau quá mạnh, cho nên tai họa ít xảy ra, hay không quá nguy hiểm. Đây chính là lý do tại sao có nguyên lý "Tam Sát có thể ở hướng, mà không thể thể ở tọa" của 1 căn nhà.
Nhưng nếu xét kỹ thì sẽ thấy sự sai lầm hoặc mâu thuẫn của nguyên lý đó. Lý do vì nhà cửa nếu được xây dựng theo Huyền Không bao giờ cũng chọn những nhà có hướng đắc Vượng khí. Gặp những năm Tam hợp Thái Tuế chiếu đến hướng ( tức Tam Sát chiếu đến tọa) thì nhà đã phát phúc phát lộc. Cho nên tại sao lại sợ Tam Sát đến tọa?
Thật ra, sở dĩ Tam Sát đến tọa là 1 điều nguy hiểm vì ngày xưa, người ta thường dùng khu vực phía sau nhà làm chỗ nghĩ ngơi. Cho nên nơi đó là khu vực "tĩnh", có nhiều âm khí. Vì Tam Sát là khu vực đối nghịch với Tam hợp Thái Tuế, nên nó là chúa tể của âm khí. Gặp năm Tam Sát đến tọa, chúa tể âm khí lại còn gặp thêm âm khí, cho nên mới chủ gây ra nhiều tai họa lớn. Nhưng không phải cho tất cả mọi người, mà chỉ cho những người nằm tại đó ( tức khu vực phía sau nhà ) mà thôi. Vì khu vực này trong năm đó âm khí quá nặng, nên nếu ai đó ở đó lâu ( như ngủ hoặc làm việc tại nơi đó thường ngày ) thì dương khí trong còn người sẽ không còn nữa ( do bị âm khí hút hết). Mà dương khí là chủ của sức khỏe và sự sống. Nếu mất nó thì con người sẽ dễ bị bệnh tật nghiêm trọng, hay nhữn tai họa về hình thương, nếu nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Cho nên Tam Sát sở dĩ nguy hiểm vì khi nó đi tới đâu thì những nơi đó thường có âm khí rất nặng, nên mới dễ phát sinh tai họa, bệnh tật, chết chóc cho những ai sống tại khu vực đó của căn nhà. Chứ không phải là nó chỉ gây tai họa khi đến phương tạo của căn nhà như nhiều người lầm tưởng. Nhất là nhiều người còn ngây ngô, chỉ dựa vào nguyên lý "Tam Sát có thể đến hướng, chứ không thể đến tọa" mà bày ra phương pháp hóa giải cứ ngồi nhìn về phía Tam Sát ( tức "hướng" có Tam Sát ) là sẽ tránh được tai họa do nó gây ra.
Một điều cần nói thêm là ngày nay, với lối kiến trúc hiện đại, phương nào của căn nhà cũng có thể có phòng ngủ, từ phía trước đến phía sau, đến 2 bên hông nhà. Cho nên cần phải chú ý đến phương vi của Tam Sát. Khi thấy nó tới khu vực nào, mà nơi đó có phòng ngủ thì phải lập tức dời giường ngủ đi nơi khác. Nếu không thì người ngủ trong phòng sẽ có tai họa, bệnh tật trong năm đó. Còn nếu Dời Phòng tức là đã "tu" được Tam Sát. Vào những năm Tam Sát tới tọa, chẳng những không có tai họa gì xảy ra, mà còn phát phúc, phát lộc nữa ( do ở hướng đắc Vượng khí gặp Tam hợp Thái Tuế ). Ngoài ra, Tam Sát chỉ gây ra những tai họa về bệnh tật, hình thương hay chết chóc, chứ không ảnh hưởng gì tới vấn đề tài lọc hay công việc cả.
Bài của Cụ Tri Tri:
NGUYỆT TAM SÁT PHƯƠNG ( Kị Động Thổ Tu Tạo )
1, Dần Ngọ Tuất Nguyệt, ( Tháng giêng, 5, 9 ) Tam Sát tại bắc ,Hợi, Tý, Sửu, phương,

2, Hợi Mão, Mùi, Nguyệt, ( Tháng 10, 2, 6, ) Tam Sát tại tây,Thân , Dậu Tuất phương,

3, Thân Tý Thìn Nguyệt, ( Tháng 7, 11, 3, ) Tam Sát tại nam,Tị Ngọ Mùi phương .

4, Tị Dậu Sửu Nguyệt, ( Tháng 4, 8, 12 ) Tam Sát tại đông, Dần, Mão, Thìn, phương

•ĐẠI TƯỚNG QUÂN: Chính là đại tướng thủ hạ của Thái tuế. Nó uy vũ trung trực, tổng lĩnh việc đánh dẹp. Phàm quốc gia lệnh cho tướng quân, công thành, chiến trận,…Tướng quân sẽ thi hành. Tướng quân mà kích chỗ xung nó là đại cát. Nhưng khởi tạo thì không thể phạm.
Đại tướng quân là chức quan cai quản về võ, tượng dũng sỹ hộ vệ, vì vậy đóng ở ngôi vị tứ chính (đông tây nam bắc) mà theo sau tuế quân. Như năm Dần mão thìn tuế tại đông phương thì đóng ở chính bắc; Tị ngọ mùi, Tuế tại Nam phương , thì đóng tại chính đông; Thân dậu tuất tuế tại Tây phương thì đóng tại chính nam; Hợi tý sửu tuế tại phương bắc thì đóng tại chính tây
• LỰC SĨ : Là ác thần của tuế, chủ hình uy, nắm chết chóc. Chỗ phương nó ở không nên hướng đến, phạm vào khiến cho người bị dịch bệnh. Lực sĩ là quân hộ vệ thiên tử. Phương thường đóng ở góc trước tuế , không dám rời xa vua. Chỗ phương nó ở có thể ban chiếu cho các thần ở phương ấy để chém người có tội. Tuế tại phương đông, lực sĩ tại góc đông nam; Tuế tại phương nam, lực sĩ ở góc tây nam; Tuế ở phương tây, lực sĩ ỡ góc tây bắc; Tuế tại phương bắc, lực sĩ ở góc đông bắc.


Bài của Cụ Tri Tri:
LỰC SỸ PHƯƠNG VỊ

1, Tuế trực Đông phương, Lực Sỹ tại Tốn,

2, Tuế trực Nam phương, Lực Sỹ tại Khôn

3, Tuế trực Tây phương, Lực Sỹ tại Kiền

4, Tuế trực Bắc phương, Lực Sỹ tại Cấn

Chú giải

1, Năm Dần Mão Thìn, Lực Sỹ tại hướng Đông Nam

2, Năm Tị Ngọ Mùi, Lực Sỹ tại hướng Tây Nam

3, Năm Thân Dậu Tuất, Lực Sỹ tại hướng Tây Bắc

4, Năm Hợi Tý Sửu, Lực Sỹ tại hướng Đông Bắc,

( Lực Sỹ là Ác Thần của Tuế, chủ hình uy, nắm việc giết chóc, phương nó ở không nên hướng đến, phạm vào sẻ khiến cho người bị Dịch bệnh .)

Address

Hai Phong

Telephone

+84788417889

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phong Thủy Nhập Môn- Đại Phát Đạt Giúp bạn Không Phí posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Phong Thủy Nhập Môn- Đại Phát Đạt Giúp bạn Không Phí:

Share