22/12/2022
TẢN MẠN VỀ SƠN MÀI TRỪU TƯỢNG VIỆT NAM
Bước vào thế kỉ XX Niches đã tuyên bố rằng “Chúa đã chết”, đó là tuyên ngôn để bắt đầu một thời đại hỗn loạn với những thay đổi sâu sắc về giá trị của tồn tại và con người. Khi những quy chuẩn đã đổ vỡ, chẳng có thước đo nào là chuẩn xác cho hiện thực và đời sống, nghệ thuật và phi nghệ thuật. Nghệ thuật cũng song hành cùng cuộc sống và đòi hỏi một sự “thay da đổi thịt”. Bởi vậy, những sự cách tân nghệ thuật đã ra đời, mở ra những khả thể mới phức tạp hơn, thay đổi sự cảm nhận của thị giác, ấn tượng, suy nghĩ và trải nghiệm của con người. Trong đó các tác phẩm trừu tượng luôn có sức hút kì lạ đối với người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác cũng như người xem trong quá trình tiếp nhận.
Bàn về tranh trừu tượng trong sơn mài – một chất liệu vô cùng đặc biệt với sự công phu, tỉ mỉ gắn với những quy phạm chặt chẽ nhất định. Trừu tượng cũng giống như một con đường mới, thoát khỏi những lối mòn cũ để giải phóng cái tôi cá nhân khỏi những khuôn khổ của tư duy thông thường. Tranh sơn mài trừu tượng bay bổng và thoát dần khỏi sự nhàm chán, đơn điệu quen thuộc của những tác phẩm tả thực thông thường.
Tranh sơn mài trừu tượng vẫn được sáng tác giống với phương pháp, kĩ thuật của sơn mài truyền thống của Việt Nam. Để vẽ được một bức tranh sơn mài, người nghệ nhân sẽ sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng với các loại son, bạc thếp, vàng thếp hay vỏ trai… để vẽ trên nền vóc màu đen. Song, không phải chỉ cần có đủ nguyên liệu mà đã có thể dễ dàng có được một bức tranh sơn mài trừu tượng hoàn chỉnh, bởi đó là cả một quá trình lao động nghệ thuật và sáng tác, là tất cả tâm tư và nhiệt huyết, là tất cả tình yêu và đam mê nghệ thuật của một người nghệ sĩ, tỉ mẩn kiên nhẫn từng ngày để sáng tạo cho tác phẩm của họ. Một trong những nét rất riêng ở tranh sơn mài trừu tượng đó là, các chi tiết và đối tượng trong tranh được chia thành nhiều mảng nhỏ, sắp xếp ngẫu nhiên và chồng chéo lên nhau mà không theo một trật tự nhất định.
Sơn mài trừu tượng Việt Nam ra đời khá sớm với những danh họa bậc thầy đầu tiên như Nguyễn Gia Trí, Phạm Tăng, Nguyễn Quỳnh, Đinh Cường, Nguyễn Phước… từ những năm 1960. Những tác phẩm thời kì này vô hình chung đã có sự tiếp thu của hội họa phương Tây, kết hợp với chất liệu của sơn ta truyền thống để sáng tác. Tỉ dụ như bức “Trừu tượng” (1960 – Nguyễn Gia Trí) sử dụng màu sắc chủ yếu là sơn then đóng vai trò chủ đạo với sắc đen và các đường nét được thếp bạc pha với phần nhỏ mảng màu đỏ mang lại cảm giác mới mẻ, độc đáo, bức “Abstract Composition” (khoảng 1970) được sử dụng sơn cánh gián, với phần nền thếp bạc là chủ đạo đường nét phóng khoáng và mạnh mẽ tạo cảm giác dữ dội. Các tác phẩm này có nội dung mới mẻ nhưng vẫn tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc sơn mài truyền thống về độ phẳng và độ bóng. Cùng thời điểm đó, Phạm Tăng khi sáng tác sơn mài trừu tượng, ông chú trọng hiệu quả thị giác và các hiệu ứng, sáng tác dựa trên nguyên tắc của nghệ thuật quang học. Tiêu biểu có thể kể đến các tác phẩm như: “Vũ trụ” và “Thời gian”. Phạm Tăng dùng chất liệu độc đáo để thể hiện những hình ảnh và sự sắp đặt màu sắc hết sức mềm mại và bay bổng, tạo nên sự hấp dẫn cho con mắt người xem. Phạm Tăng từng chia sẻ: “Cái hồn tranh mà tôi muốn xây dựng không thể là cái hồn tranh giả tạo cổ điển, cũng không phải là cái hồn mập mờ nửa thực tại, nửa trừu tượng. Nó là cái hồn của chính bức tranh, tự những tổ chức cấu tạo của nó mà nó có cái hồn. Nói rõ hơn, hồn tranh xuất hiện tự bút pháp của người họa sĩ mà ra… Tôi hoàn toàn tự do suy ngẫm ngoại giới, kết lọc những cái tinh túy bên trong, gạt bỏ những thừa thãi giả tạo, nhìn ngoài xong lại nhìn trong, cố gắng tìm ra chân tướng của sự sống để thể diễn lên trên tranh, đem phổ sự sống đó vào nét vào hình vào sắc…”.
Đến ngày nay, các họa sĩ trừu tượng có sự phá cách hơn, có thể kể đến như: Đinh Quân, Nguyễn Văn Chuyên, Trương Bế, Trần Ngọc Hưng… Ngoài hướng sáng tác chuyên sâu vào nghệ thuật tạo hình, hiệu ứng màu sắc, mảng màu… thì việc phá cách, biến đổi bề mặt từ 2D sang 3D cũng là một nỗ lực đáng trân trọng của các họa sĩ. Song thể nghiệm nghệ thuật này lại gây nhiều tranh cãi khi phá vỡ quy tắc mặt phẳng của sơn mài truyền thống bởi sơn mài phải được mài nhẵn và làm phẳng, đánh bóng. Ta có thể lấy ví dụ trong sơn mài Đinh Quân, ông không làm phẳng, nhẵn, không đánh bóng sơn mài. Học tập từ phương tây về không gian ba chiều, Đinh Quân đã sử dụng trong sáng tác, trong tranh của ông có thể thấy ông chủ yếu mài lớp nền, còn đối với những lớp tenique phía trên thì được giữ lại với bề mặt khá gồ ghề, với nhiều đường nét, mảng màu dày dặn và nổi hoàn toàn trên bề mặt. Một số họa sĩ đương đại khác trong quá trình sáng tác sơn mài trừu tượng lại đi sâu vào khám phá và khai thác bảng màu đa dạng của sơn mài như Trần Ngọc Hưng với tác phẩm “Lát cắt trầm tích”, đúng như tác giả đã chia sẻ: "Tôi đi tìm bảng màu của sơn mài, như đào sâu hàng ngàn lớp xuống lòng đất, không biết bao giờ mới đến nơi."Một số họa sĩ khác khi sáng tác sơn mài trừu tượng lại chọn đi sâu vào vùng mờ tâm linh, vô thức, tín ngưỡng và tôn giáo, chúng ta có thể kể đến như: Diệp Quý Hải với tác phẩm “Hội đêm”, “Bông sen lớn” của Mai Đắc Linh, “Huyền thoại bãi đá cổ”, “Mỹ Sơn”, “Trở về cội nguồn” của Nguyễn Văn Chuyên…
Giao tiếp của sơn mài trừu tượng với khán giả có thể bị thu hẹp khi phần đa các tác phẩm đều thể hiện cái tôi cá nhân, ít hướng đến đại chúng và người nghệ sĩ sáng tác không phải để “nịnh thị hiếu số đông” mà hơn cả để thỏa mãn nhu cầu sáng tác cá nhân. Vậy làm thế nào để hiểu những tác phẩm trừu tượng, đặc biệt là sơn mài?
Đó chính là con đường giải mã bố cục, nhịp điệu của yếu tố thị giác, màu sắc và chất liệu. Đó là nghề chơi cần nhiều công phu, thưởng thức và tiếp nhận mang tính ngẫu hứng đánh thức trải nghiệm cá nhân của từng người. Hầu như không có đáp án, mẫu số chung nào cho các tác phẩm hội họa, nó đòi hỏi người xem phải có độ tương thích trong trải nghiệm nhân sinh, có sự đồng cảm và thấu hiểu với quá trình sáng tác của người nghệ sĩ. Trừu tượng luôn mang lại cho con người cảm giác mơ hồ, khó hiểu. Sự mơ hồ này xuất phát từ nhu cầu muốn hiểu và kết nối của con người sâu trong tiềm thức. Nói đơn giản trừu tượng là rũ bỏ lớp áo hiện thực để thổi hồn vào tác phẩm một ấn tượng, một cảm xúc được mã hóa thành các tín hiệu nghệ thuật đưa vào tác phẩm để tìm về bản chất của sự vật, hiện tượng. trừu tượng là “hiện thực của cảm xúc”. Trừu tượng mơ hồ nhưng lại là hội họa nhất, vì nó dùng tất cả các yếu tố cơ bản của hội họa, nhưng lại không ràng buộc người vẽ và người xem vào vỏ ngoài của hình thể, mà đi vào trạng thái bên trong. Đối với hội họa trừu tượng, cũng không nên phân biệt với các môn phái khác. Nó cũng chỉ là phương tiện để họa sĩ tìm cái thật. Hội họa trừu tượng khó là vì họa sĩ không có chỗ dựa vào mẫu thực. Từng chấm, từng nét trong tranh trừu tượng cũng có mật mã riêng nhưng lại là một chỉnh thể thống nhất với toàn thể tranh. Ta có thể giải mã các tác phẩm trừu tượng sơn mài bằng đề tài, tựa đề của các tác phẩm do tác giả gợi dẫn hoặc giải mã thông qua bảng màu sơn mài: màu đỏ tạo cảm giác dữ dội, quyết liệt, màu vàng tạo cảm giác bình yên và sâu lắng, màu xanh tạo cảm giác dễ chịu… Tuy nhiên, việc thưởng thức các tác phẩm còn phụ thuộc vào sự học hỏi và kinh nghiệm của người xem bởi chức năng của nghệ thuật chính là đánh thức kí ức, trải nghiệm và mong muốn của khán giả.
Có thể kết luận rằng: sơn mài trừu tượng Việt Nam có một sức hấp dẫn rất lớn. Đối với người nghệ sĩ nó vừa thể nghiệm một lối đi khác trong sáng tạo, lại vừa tìm kiếm sự tự do về biểu đạt, tự do về tư tưởng. Đối với công chúng, đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm cao hơn để tiếp nhận những tác phẩm nghệ thuật này. Ngày nay sơn mài trừu tượng vẫn là một địa hạt được quan tâm với sự khai thác vô hạn cho các họa sĩ đương đại khi họ muốn nối tiếp các tiền nhân trong sáng tác và có những lối đi riêng để khẳng định cái tôi cá nhân. Con đường phát triển của sơn mài trừu tượng Việt Nam đánh dấu sự chuyển mình từ truyền thống đến cách tân, phá vỡ những khuôn khổ để không ngừng làm mới, lạ hóa chất liệu, nội dung, đề tài sáng tác. Sơn mài trừu tượng Việt Nam rất có tiềm năng để xây dựng một ngôn ngữ riêng, độc đáo và có thể sánh kịp với các nước trên thế giới.
Tham khảo một số nguồn.
Minh họa:
Trừu tượng – Nguyễn Gia Trí
Trừu tượng - Nguyễn Huy Hùng
Huyền thoại bãi đá cổ - Nguyễn Văn Chuyên
Và một số tác phẩm khác.